Các bản Tuyên ngôn độc lập trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam
5/10/23 6:14 AM
Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, với ý chí sắt đá “Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do” “ Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” – Hồ Chí Minh, dân tộc ta đã bao lần đứng lên cầm vũ khí chiến đấu bảo vệ độc lập, tự do, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc với bao hy sinh máu, xương của nhiều thế hệ người Việt Nam suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Những lời tuyên ngôn độc lập hùng hồn của dân tộc Việt Nam còn vang vọng mãi, như nhắc nhở các thế hệ người dân Việt Nam về điều chân quý là “Độc lập, Tự do” của Tổ quốc.

 

“Nam quốc sơn hà, Nam đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư,

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư”.

Nam Quốc Sơn Hà –Lý Thường Kiệt

Lý Thường Kiệt lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Tống lần thứ hai vào thế kỷ thứ XI, giành thắng lợi là một trong những chiến công chói lọi trong trang sử vàng về bảo vệ và khẳng định chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam. Bài thơ Nam Quốc Sơn Hà vang vọng trên tuyến sông Như Nguyệt (Sông Cầu) đã đi vào lịch sử dân tộc như bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam.

Chủ quyền, độc lập và tự do của Việt Nam đã phải đánh đổi rất nhiều máu, xương và nước mắt của bao thế hệ con dân đất Việt. Độc lập chủ quyền mà dân tộc ta giành được nhờ vào sự cống hiến, đoàn kết, phong tục, tập quán của toàn dân, cộng với sự đồng cam cộng khổ suốt mấy nghìn năm từ khi dựng nước đến giờ đã được nhấn mạnh để chứng tỏ quyền độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam. Đó là lời khẳng định hùng hồn của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại Cáo.

Bằng lời lẽ đanh thép, ngắn gọn – Bình Ngô Đại Cáo như bản hùng ca bất tận về sự chiến đầu ngoan cường của nhân dân Đại Việt trước sự hung tàn của kẻ thù xâm lăng. Đây là bản Tuyên ngôn thứ 2 khẳng định sự độc lập, chủ quyền của dân tộc trước toàn dân, các nước láng giềng và kẻ thù xâm lược.

“Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương

……

Xã tắc từ đây vững bền

Giang sơn từ đây đổi mới

Kiền khôn bĩ rồi lại thái

Nhật nguyệt hối rồi lại minh.

Muôn thuở nền thái bình vững chắc”.

Bình Ngô Đại Cáo – Nguyễn Trãi

Khát vọng hoà bình, độc lập, tự do là ý chí, nguyện vọng muôn đời của dân tộc Việt Nam, nhưng thực dân Pháp đã chà đạp lên chân lý đó. Chúng đô hộ nhân dân Việt Nam hơn 80 năm, nhấn chìm đất nước này trong những đêm trường nô lệ, gông cùm và xiềng xích. Đất nước này, dân tộc này một lần nữa đứng lên đập tan xiềng xích nô lệ, đánh bại kẻ thù xâm lược, cướp nước để bảo vệ non sông bờ cõi, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Câu nói: “Quyết  tử để Tổ quốc quyết sinh” của Chủ tịch Hồ Chí Minh như một biểu tượng cho sự hy sinh vì nền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam.

Ngày 2/9/1945 trong thế kỷ XX là ngày trọng đại trong lịch sử Việt Nam, trên lễ đài tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộng Hoà Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam) với cả thế giới. Kể từ thời khắc đó, lịch sử dân tộc đã bước sang trang mới. Những người con Việt Nam đã ngẩng cao đầu, tự hào với thế giới vì mình đã trở thành công dân một nước tự do, độc lập.

Hỡi đồng bào cả nước

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; Trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; Dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi". Đó là những lẽ phải, không ai chối cãi được.

Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết. Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu. Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

Mùa thu năm 1940, phát-xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng trị đến Bắc kỳ hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc bỏ chạy hoặc đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không "bảo hộ" được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng dã man bán nước ta hai lần cho Nhật.

Trước ngày mồng 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa.Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.

Tuy vậy, đối với nước Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày mồng 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.

Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ cộng hòa.

Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp. Chúng tôi tin rằng các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các hội nghị Tê-Hê-Răng và Cựu-Kim-Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.  Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! dân tộc đó phải được độc lập!

Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Bản Tuyên ngôn độc lập được Hồ Chí Minh soạn thảo và đọc trước công chúng tại vườn hoa Ba Đình ( nay là Quảng trường Ba Đình) vào ngày 2/9/1945 được ghi nhận là bản Tuyên ngôn độc lập thứ 3 của lịch sử dân tộc Việt Nam, sau bài thơ thần Nam Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt ở thế kỷ XI và Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi ở thế kỷ XV. Mặc dù ra đời vào những thời điểm khác nhau, nhưng thời điểm ra đời của những bản Tuyên ngôn đó đều là những mốc thời gian trọng đại của đất nước. Những tuyên ngôn đó mãi mãi là lời khẳng định giá trị tinh thần độc lập, tự cường của dân tộc Việt Nam, của nhân dân Việt Nam.

Nguồn www.lichsuvietnam.vnwww.thcsanthuy.edu.vn

 

Bài viết liên quan