Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30 tháng 4 năm 2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới và Nghị quyết số 68- NQ/TW, ngày 04 thánh 5 năm 2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân
Sáng ngày 18 tháng 5 năm 2025 lãnh đạo Ban Quản lý các Khu chế xuất và công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh và toàn thể đảng viên tham dự trực tuyến quán triệt Hội nghị toàn quốc của Bộ Chính trị tại điểm cầu Thành phố Hồ Chí Minh về quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30 tháng 4 năm 2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới và Nghị quyết số 68- NQ/TW ngày 04 thánh 5 năm 2025 của về phát triển kinh tế tư nhân. Sau đây là một số nội dung chính của Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 68- NQ/TW:
Nghị quyết 66-NQ/TW là một văn kiện quan trọng, thể hiện quyết tâm của Bộ Chính trị trong việc tiếp tục đổi mới và hoàn thiện công tác xây dựng và thi hành pháp luật, nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng vững mạnh, phục vụ sự phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới. Theo đó, Nghị quyết 66-NQ/TW đã đặt ra các mục tiêu và tầm nhìn cũng như nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm về đổi mới và hoàn thiện công tác xây dựng và thi hành pháp luật như sau:
+ Mục tiêu đến năm 2030: Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật theo hướng hiện đại, công khai, minh bạch, thống nhất, khả thi, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và các cam kết quốc tế. Công tác thi hành pháp luật được nâng cao chất lượng, đảm bảo thượng tôn pháp luật; + Tầm nhìn đến năm 2045: Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, hệ thống pháp luật hoàn thiện, đồng bộ, hiện đại, thể hiện rõ bản chất nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
+ Nâng cao nhận thức và trách nhiệm: Quán triệt sâu rộng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và thi hành pháp luật, nâng cao nhận thức về vai trò của pháp luật trong phát triển đất nước, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên và Nhân dân; + Hoàn thiện thể chế, pháp luật: Tập trung thể chế hóa kịp thời, đầy đủ các chủ trương, đường lối của Đảng thành pháp luật; đổi mới quy trình, thủ tục xây dựng pháp luật theo hướng khoa học, dân chủ, công khai, minh bạch, có sự tham gia rộng rãi của các đối tượng chịu tác động; rà soát, khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, chưa rõ ràng trong hệ thống pháp luật; nghiên cứu, ban hành các chính sách đột phá, khuyến khích đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế số, xã hội số, kinh tế xanh; nâng cao chất lượng thẩm định, thẩm tra, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; + Tăng cường hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của toàn xã hội; tăng cường năng lực thực thi pháp luật của các cơ quan nhà nước, đặc biệt là các cơ quan tư pháp và cơ quan thực thi pháp luật; cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm phiền hà cho người dân và doanh nghiệp; kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác thi hành pháp luật; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác thi hành pháp luật; + Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng và thi hành pháp luật: Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, liêm chính, bản lĩnh chính trị vững vàng; + Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, xử lý vi phạm: Phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật; + Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học pháp lý: Phát triển lý luận về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tổng kết thực tiễn, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xây dựng và thi hành pháp luật; + Tăng cường hợp tác quốc tế: Học hỏi kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và thi hành pháp luật, tham gia tích cực vào các điều ước quốc tế, pháp luật quốc tế; + Đảm bảo nguồn lực: Ưu tiên bố trí nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất, kỹ thuật cho công tác xây dựng và thi hành pháp luật.
Nghị quyết 68-NQ/TW đưa ra 5 quan điểm chỉ đạo đột phá, trong đó nhấn mạnh kinh tế tư nhân (KTTN) là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, cần được phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả, chất lượng cao. Nghị quyết yêu cầu xóa bỏ triệt để định kiến về KTTN, coi doanh nhân là "chiến sĩ trên mặt trận kinh tế", tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, và tăng cường vai trò kiến tạo của Nhà nước, lấy doanh nghiệp làm trung tâm. Theo đó, Nghị quyết 68-NQ/TW đặt ra các mục tiêu, tầm nhìn và nhiệm vụ, giải pháp cụ thể:
+ Đổi mới tư duy, nhận thức và hành động, tạo xung lực mới để phát triển KTTN, chú trọng truyền thông tích cực. + Cải cách, hoàn thiện thể chế, chính sách, bảo đảm và bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền cạnh tranh bình đẳng, và thực thi hợp đồng của KTTN. Trong đó, phấn đấu đến năm 2028 môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam thuộc nhóm 3 quốc gia hàng đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới. + Tạo thuận lợi cho KTTN tiếp cận các nguồn lực về đất đai, vốn, nhân lực chất lượng cao. Bao gồm hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai trong năm 2025, giảm thời gian giải quyết thủ tục thuê đất, cấp giấy chứng nhận, hỗ trợ tiền thuê đất, ưu tiên tín dụng cho doanh nghiệp tư nhân, hoàn thiện mô hình quỹ bảo lãnh tín dụng, và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. + Thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh doanh hiệu quả, bền vững, với các chính sách ưu đãi thuế cho hoạt động nghiên cứu và phát triển. |
