Về việc triển khai Luật Việc làm số 74/2025/QH15
1/13/26 9:00 AM

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá XV đã thông qua Luật Việc làm số 74/2025/QH15 (viết tắt là Luật Việc làm 2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026, Ban Quản lý các Khu chế xuất và công nghiệp Thành phố (Ban Quản lý) đề nghị các doanh nghiệp trong khu chế xuất và khu công nghiệp thực hiện các nội dung sau:

1. Nghiên cứu, phổ biến, áp dụng và thực hiện Luật Việc làm 2025

1.1 Chủ động tổ chức nghiên cứu, phối hợp với Công đoàn cơ sở triển khai toàn bộ nội dung Luật Việc làm 2025 đến toàn thể cán bộ, công nhân viên, người lao động nhất là các điểm mới, những nội dung quan trọng về:

- Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), trong đó lưu ý: Người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên, kể cả trường hợp người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên (điểm a khoản 1 Điều 31).

- Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp là ngày làm việc thứ 11 kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp (khoản 3 Điều 39).

- Các trường hợp chấm dứt hưởng BHTN: trong đó 02 trường hợp người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp do người lao động không thực hiện nghĩa vụ gồm: (khoản 4 Điều 41)

+ Sau hai lần từ chối việc làm do trung tâm dịch vụ việc làm giới thiệu mà không có lý do chính đáng.

+ Không thực hiện thông báo tìm kiếm việc làm hằng tháng liên tục trong 03 tháng quy định tại Điều 40 của Luật Việc làm 2025.

1.2 Đối với người sử dụng lao động:

- Luật Việc làm 2025 quy định rõ người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng đủ BHTN. Việc xử lý hành vi chậm đóng, trốn đóng BHTN được thực hiện theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 (khoản 5 Điều 33 Luật Việc làm).

- Người sử dụng lao động được giảm tiền đóng bảo hiểm thất nghiệp thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động phải đóng cho người lao động là người khuyết tật trong thời gian không quá 12 tháng khi tuyển mới và sử dụng người lao động là người khuyết tật (khoản 6 Điều 33 Luật Việc làm).

- Người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định đối với người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc để kịp thời giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.

Trường hợp người sử dụng lao động không đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động thì phải trả khoản tiền tương ứng với các chế độ bảo hiểm thất nghiệp mà người lao động được hưởng theo quy định của pháp luật (khoản 7 Điều 33 Luật Việc làm).

 

 
   

2. Thông tin đăng ký lao động và cơ sở dữ liệu về người lao động: (Điều 17 Luật Việc làm)

- Người sử dụng lao động, người lao động đăng ký, điều chỉnh thông tin đăng ký lao động khi đăng ký, điều chỉnh thông tin tham gia bảo hiểm xã hội.

- Thông tin đăng ký lao động và cơ sở dữ liệu về người lao động được kết nối, cập nhật, đồng bộ, chia sẻ từ Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và cơ sở dữ liệu khác theo quy định của Luật Việc làm, pháp luật về dữ liệu và quy định khác của pháp luật có liên quan.

- Người lao động được sử dụng thông tin của bản thân trong cơ sở dữ liệu về người lao động trong giao dịch, tiếp cận và thụ hưởng chính sách hỗ trợ tạo việc làm; đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; tư vấn, giới thiệu việc làm; bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật này.

 
   

3. Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong tuyển dụng, quản lý, sử dụng người lao động: (Điều 25 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 ngày 26 tháng 6 năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026)

3.1 Trách nhiệm bảo vệ dữ liệu cá nhân của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tuyển dụng lao động được quy định như sau:

- Chỉ được yêu cầu cung cấp các thông tin phục vụ cho mục đích tuyển dụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân tuyển dụng phù hợp với quy định của pháp luật; thông tin được cung cấp chỉ được sử dụng vào mục đích tuyển dụng và mục đích khác theo thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật;

- Thông tin cung cấp phải được xử lý theo quy định của pháp luật và phải được sự đồng ý của người dự tuyển;

- Phải xóa, hủy thông tin đã cung cấp của người dự tuyển trong trường hợp không tuyển dụng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với người đã dự tuyển;

3.2 Trách nhiệm bảo vệ dữ liệu cá nhân của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý, sử dụng người lao động được quy định như sau:

- Tuân thủ quy định của Luật này, pháp luật về lao động, việc làm, pháp luật về dữ liệu và quy định khác của pháp luật có liên quan;

- Dữ liệu cá nhân của người lao động phải lưu trữ trong thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận;

- Phải xóa, hủy dữ liệu cá nhân của người lao động khi chấm dứt hợp đồng, trừ trường hợp theo thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.

3.3 Việc xử lý dữ liệu cá nhân của người lao động được thu thập bằng biện pháp công nghệ, kỹ thuật trong quản lý người lao động được quy định như sau:

- Chỉ được áp dụng các biện pháp công nghệ, kỹ thuật phù hợp với quy định của pháp luật và bảo đảm quyền, lợi ích của chủ thể dữ liệu cá nhân, trên cơ sở người lao động biết rõ biện pháp đó;

- Không được xử lý, sử dụng dữ liệu cá nhân thu thập từ các biện pháp công nghệ, kỹ thuật trái quy định của pháp luật.

Căn cứ Luật Việc làm 2025, Ban Quản lý đề nghị Công ty rà soát lại việc sử dụng lao động để đảm bảo thực hiện đúng đối tượng tham gia BHTN theo Điều 31 và các quy định mới có liên quan./.    

Bài viết liên quan