Ứng dụng mô hình thông tin công trình (BIM) trong hoạt động xây dựng và các giải pháp công nghệ số
Những năm gần đây, công nghệ Mô hình thông tin công trình (BIM - Building Information Modeling) đã trở thành một công cụ hỗ trợ mạnh mẽ, phát triển cùng xu hướng chuyển đổi số trong đầu tư xây dựng. BIM không chỉ là một công cụ hỗ trợ thiết kế mà còn đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ vòng đời của dự án, từ khâu lập kế hoạch, thiết kế, thi công cho đến vận hành và bảo trì công trình.
Lợi ích của BIM trong đầu tư xây dựng
BIM giúp quản lý các thông tin của công trình trên mô hình trực quan 3D, thông minh thay vì các bản vẽ 2D truyền thống. Mô hình BIM tích hợp đầy đủ dữ liệu về kiến trúc, kết cấu, cơ điện và vật liệu, giúp các bên liên quan có thể phối hợp chặt chẽ và hiệu quả. Nhờ khả năng mô phỏng, phân tích và quản lý thông tin theo thời gian thực, BIM không chỉ giảm thiểu sai sót trong thiết kế và thi công mà còn giúp tiết kiệm chi phí, thời gian và nâng cao chất lượng công trình. Bên cạnh đó, BIM còn hỗ trợ quản lý và vận hành công trình sau khi hoàn thành, giúp chủ đầu tư sử dụng và bảo trì hiệu quả, kéo dài thời hạn sử dụng công trình và tối ưu hóa chi phí vận hành.
Mô hình thông tin công trình giúp nâng cao hiệu quả trong công tác thiết kế, thi công, quản lý công trình xây dựng (Ảnh: Vectorworks)
Ứng dụng BIM trong hoạt động xây dựng
Ngày 30 tháng 12 năm 2024, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 175/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xây dựng về quản lý hoạt động xây dựng. Việc áp dụng BIM trong hoạt động xây dựng được quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định 175/2024/NĐ-CP, cụ thể như sau:
a) Áp dụng đối với dự án có quy mô từ nhóm B trở lên ở thời điểm bắt đầu chuẩn bị dự án và chỉ yêu cầu áp dụng đối với công trình xây dựng mới từ cấp II trở lên thuộc dự án;
b) Đối với các công trình không thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản này, khuyến khích chủ đầu tư chủ động áp dụng BIM trong đầu tư xây dựng và cung cấp tập tin BIM theo quy định tại khoản 4 và điểm c khoản 5 Điều 8 Nghị định 175/2024/NĐ-CP.
Đối với các công trình quy định nêu trên, ngoài các hồ sơ trình thẩm định, cấp phép xây dựng theo quy định của Nghị định 175/2024/NĐ-CP, chủ đầu tư (hoặc người đề nghị thẩm định) có trách nhiệm cung cấp dữ liệu BIM của công trình theo các định dạng gốc và định dạng chuẩn IFC 4.0 hoặc các định dạng mở khác phù hợp với đặc thù, tính chất của công trình bằng các thiết bị lưu trữ phổ biến.
Dữ liệu BIM có thể bao gồm nhiều tệp tin nhưng dung lượng của mỗi tệp tin không quá 500 MB. Nội dung dữ liệu BIM nộp cho cơ quan chuyên môn về xây dựng phải có các thông tin thể hiện được vị trí, hình dạng không gian ba chiều của công trình, trong đó thể hiện đầy đủ kích thước chủ yếu các bộ phận chính của công trình.
Các bộ môn được tích hợp đầy đủ trong một mô hình BIM duy nhất, thuận lợi cho công tác phối hợp, quản lý (Ảnh: Iyara Wanich)
Sử dụng mô hình BIM để hỗ trợ công tác quản lý nhà nước về công trình xây dựng
Theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Nghị định 175/2024/NĐ-CP, việc sử dụng mô hình BIM để hỗ trợ công tác quản lý nhà nước về công trình xây dựng được thực hiện như sau:
a) Cơ quan chuyên môn về xây dựng được sử dụng dữ liệu BIM để hỗ trợ trong quá trình thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng, thẩm định thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở, cấp phép xây dựng;
b) Đối với công trình xây dựng có quy mô cấp đặc biệt, cấp I thuộc đối tượng quy định tại khoản 6 Điều 82 của Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi bổ sung tại khoản 24 Điều 11 Luật số 62/2020/QH14 và các công trình có yêu cầu phải thẩm tra thiết kế trong quá trình thẩm định tại cơ quan chuyên môn về xây dựng theo quy định tại Nghị định 175/2024/NĐ-CP, tại kết quả thẩm tra thiết kế xây dựng công trình cần có đánh giá của đơn vị tư vấn thẩm tra về tính thống nhất của mô hình BIM với các kết quả tính toán, thiết kế thể hiện tại hồ sơ nộp thực hiện thủ tục hành chính;
c) Chủ đầu tư có trách nhiệm cập nhật tệp tin BIM trong hồ sơ thiết kế vào cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng theo quy định của Nghị định về cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng.
