Hoàn thiện hành lang pháp lý về sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng phục vụ chuyển đổi số
09:35 21/08/2026

Trong quá trình đẩy mạnh hoạt động trên môi trường số, bảo đảm an ninh mạng là yêu cầu gắn liền với việc vận hành an toàn các hệ thống thông tin. Nghị định số 332/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 của Chính phủ quy định cụ thể về hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng, từ điều kiện kinh doanh, nhân lực, kỹ thuật đến cấp phép, kiểm tra và trách nhiệm của doanh nghiệp, qua đó hoàn thiện cơ sở pháp lý đối với lĩnh vực cung cấp sản phẩm, dịch vụ bảo vệ an ninh trên môi trường mạng.

Xác định rõ các sản phẩm, dịch vụ bảo vệ hoạt động trên môi trường số

Nghị định số 332/2026/NĐ-CP quy định cụ thể các nhóm sản phẩm an ninh mạng gồm sản phẩm kiểm tra, đánh giá an ninh mạng; sản phẩm giám sát an ninh mạng; sản phẩm chống tấn công, xâm nhập và các sản phẩm an ninh mạng khác.

Đối với dịch vụ, Nghị định xác định các loại hình như kiểm tra, đánh giá an ninh mạng; tư vấn an ninh mạng; giám sát an ninh mạng; ứng cứu sự cố; khôi phục dữ liệu; phòng ngừa, chống tấn công mạng; huấn luyện, diễn tập bảo vệ an ninh mạng; săn tìm và báo cáo lỗ hổng bảo mật...Đây là những sản phẩm, dịch vụ trực tiếp phục vụ hoạt động kiểm tra, giám sát, phát hiện nguy cơ, ứng cứu sự cố và bảo vệ hệ thống thông tin. Vì vậy, việc Nghị định xác định cụ thể phạm vi sản phẩm, dịch vụ và điều kiện kinh doanh có ý nghĩa đối với việc chuẩn hóa hoạt động cung cấp các giải pháp bảo đảm an ninh trên môi trường số.

Đặt ra yêu cầu về năng lực của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ an ninh mạng

Nghị định quy định tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ thuộc Điều 3 và Điều 4 phải có Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng; giấy phép có thời hạn 10 năm.

Để được cấp giấy phép, doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện về pháp lý, nhân sự và kỹ thuật. Trong đó, phải có nhân sự chịu trách nhiệm kỹ thuật phù hợp với loại hình sản phẩm, dịch vụ kinh doanh; có trình độ từ đại học trở lên hoặc chứng chỉ chuyên ngành an ninh mạng, an toàn thông tin, công nghệ thông tin, điện tử viễn thông; đồng thời có hệ thống trang thiết bị, cơ sở vật chất và công nghệ phù hợp.

Đáng chú ý, đối với dịch vụ kiểm tra an ninh mạng, tư vấn an ninh mạng, đội ngũ nhân sự kỹ thuật phải có ít nhất 05 người có trình độ đại học hoặc chứng chỉ về an ninh mạng trở lên. Đối với dịch vụ giám sát an ninh mạng, yêu cầu ít nhất 12 người có trình độ tương ứng và có nhân sự chịu trách nhiệm quản trị hệ thống, bảo mật thông tin.

Các quy định này đặt ra yêu cầu cụ thể về năng lực chuyên môn và hạ tầng kỹ thuật của đơn vị cung cấp sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng – những chủ thể tham gia bảo vệ hệ thống thông tin, dữ liệu và hoạt động trên môi trường số.

Bảo đảm khả năng giám sát, ứng cứu và duy trì hoạt động liên tục

Một nội dung có liên hệ trực tiếp với yêu cầu bảo đảm an toàn trong chuyển đổi số là Nghị định yêu cầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ an ninh mạng phải có phương án kỹ thuật đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh mạng theo loại hình dịch vụ; có phương án dự phòng bảo đảm duy trì hoạt động an toàn, liên tục và khắc phục khi xảy ra sự cố.

Đối với hoạt động giám sát an ninh mạng, doanh nghiệp phải có mô tả tổng thể tính năng kỹ thuật của hệ thống giám sát và quy trình vận hành; phương án kinh doanh phải xác định phạm vi, đối tượng cung cấp dịch vụ, loại hình dịch vụ dự kiến cung cấp, phương án bảo mật thông tin của khách hàng và phương án bảo đảm chất lượng dịch vụ.

Những yêu cầu này hướng tới bảo đảm năng lực giám sát, phát hiện nguy cơ, duy trì hoạt động và xử lý sự cố đối với các hệ thống thông tin trong quá trình khai thác, vận hành.

Tăng trách nhiệm của doanh nghiệp trong bảo đảm an ninh mạng

Nghị định yêu cầu tổ chức, doanh nghiệp phải duy trì thường xuyên, liên tục các điều kiện trong quá trình kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng.

Đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ giám sát an ninh mạng, Nghị định còn quy định trách nhiệm duy trì kết nối, trao đổi thông tin giám sát với hệ thống bảo vệ an ninh mạng quốc gia của Bộ Công an trong quá trình cung cấp dịch vụ.

Doanh nghiệp được cấp giấy phép phải thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hằng năm về tình hình kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng đến Bộ Công an. Kỳ số liệu báo cáo được tính từ ngày 01/01 đến ngày 31/12 và thời hạn nộp báo cáo trước ngày 31/01 năm sau.

Bên cạnh đó, cơ quan có thẩm quyền thực hiện kiểm tra việc chấp hành quy định về kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng. Việc kiểm tra toàn diện không quá 01 lần trong năm, bao gồm cả kiểm tra liên ngành, trừ trường hợp có dấu hiệu vi phạm rõ ràng.

Tăng cường nền tảng an ninh mạng trong tiến trình chuyển đổi số

Chuyển đổi hoạt động lên môi trường số đi cùng với yêu cầu bảo vệ hệ thống thông tin, dữ liệu và duy trì hoạt động ổn định, liên tục. Trong đó, năng lực của các tổ chức, doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng là một thành tố quan trọng của hệ sinh thái số an toàn.

Nghị định số 332/2026/NĐ-CP đã cụ thể hóa các loại sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng; điều kiện về nhân lực, kỹ thuật; cơ chế cấp phép; trách nhiệm duy trì điều kiện kinh doanh, báo cáo và kiểm tra. Các quy định này tạo cơ sở để quản lý chặt chẽ hơn hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng, góp phần bảo đảm môi trường số an toàn trong quá trình triển khai các hoạt động chuyển đổi số.

Nghị định số 332/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 19/8/2026

Bài viết liên quan