Thông tin về Quyết định 09/2023/QĐ-TTg quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, cấp và quản lý thẻ ABTC do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 12/4/2023
08:54 19/06/2023

Ngày 12/4/2023, Thủ tướng ban hành Quyết định số 09/2023/QĐ-TTg về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, cấp và quản lý thẻ đi lại doanh nhân APEC.

Theo đó, Quyết định quy định cụ thể điều kiện được xem xét cấp thẻ ABTC như sau:

(1) Điều kiện đối với cơ quan, tổ chức nơi doanh nhân đang làm việc: Có nhu cầu cử nhân sự đi lại thường xuyên, ngắn hạn để tham dự các hội nghị, hội thảo, cuộc họp thường niên và các hoạt động về hợp tác, phát triển kinh tế của APEC.

(2) Điều kiện đối với doanh nghiệp nơi doanh nhân đang làm việc:

- Doanh nghiệp đã có thời gian hoạt động liên tục từ 12 tháng trở lên, chấp hành đúng quy định của pháp luật về thương mại, thuế, hải quan, lao động, bảo hiểm xã hội và các quy định pháp luật liên quan khác;

- Doanh nghiệp phải có các hoạt động ký kết, hợp tác kinh doanh trực tiếp với đối tác của các nền kinh tế thành viên APEC;

- Có nhu cầu cử nhân sự đi lại thường xuyên, ngắn hạn để thực hiện các hoạt động hợp tác kinh doanh, thương mại, đầu tư, dịch vụ hoặc các mục đích kinh tế khác tại các nền kinh tế thành viên APEC.

(3) Điều kiện đối với doanh nhân đề nghị cấp thẻ ABTC:

- Từ đủ 18 tuổi trở lên, có đủ năng lực hành vi dân sự;

- Đang làm việc, giữ chức vụ thực tế tại cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp từ 12 tháng trở lên tính đến thời điểm đề nghị cho phép sử dụng thẻ ABTC;

- Không thuộc các trường hợp tạm hoãn xuất cảnh theo quy định tại Điều 36 Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam.

* Doanh nghiệp có nhu cầu xin xét cho phép doanh nhân sử dụng thẻ ABTC có thể nộp trực tiếp hoặc trực tuyến qua cổng dịch vụ công. Thành phần hồ sơ gồm có:

a) Bản chính văn bản đề nghị cho phép sử dụng thẻ ABTC do người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ký và chịu trách nhiệm về nhân sự (theo mẫu CV01 tại Phụ lục);

b) Báo cáo tổng hợp kê chi tiết các khoản thuế của doanh nghiệp, doanh nhân đã đóng vào Ngân sách nhà nước trong 12 tháng tính đến thời điểm đề nghị cho phép sử dụng thẻ ABTC;

c) Bản sao có chứng thực hoặc bản sao điện tử có chứng thực hợp đồng thương mại của doanh nghiệp ký kết trực tiếp hoặc qua giao dịch điện tử với đối tác của nền kinh tế thành viên APEC có thời hạn không quá 02 năm tính đến thời điểm đề nghị được sử dụng thẻ ABTC, kèm theo các văn bản thể hiện hợp đồng, tài liệu ký kết, hợp tác đã được thực hiện. Nếu các văn bản bằng tiếng nước ngoài phải dịch công chứng hoặc chứng thực sang tiếng Việt. Trường hợp chưa có hợp đồng thương mại thì phải có giấy tờ chứng minh nhu cầu hợp tác với đối tác của nền kinh tế thành viên APEC;

d) Bản sao có chứng thực hoặc bản sao điện tử có chứng thực hộ chiếu còn giá trị sử dụng hoặc giấy tờ thể hiện nhu cầu đi lại thường xuyên, ngắn hạn để thực hiện các hoạt động ký kết, hợp tác kinh doanh với đối tác nước ngoài. Trường hợp bản sao không có chứng thực thì xuất trình bản chính để kiểm tra, đối chiếu;

đ) Bản sao có chứng thực hoặc bản sao điện tử có chứng thực quyết định bổ nhiệm chức vụ của doanh nhân. Trường hợp bản sao không có chứng thực thì xuất trình bản chính để kiểm tra, đối chiếu;

e) Báo cáo về tình hình chấp hành nghĩa vụ bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp trong 12 tháng gần nhất và quá trình đóng bảo hiểm xã hội của doanh nhân tính đến thời điểm đề nghị cho phép sử dụng thẻ ABTC kèm theo tài liệu chứng minh; thời gian đóng bảo hiểm xã hội của doanh nhân với chức vụ đề nghị cấp thẻ tối thiểu là 12 tháng. Trường hợp không còn trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc đã hoàn thành nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì trong báo cáo nêu rõ lý do và có tài liệu chứng minh kèm theo. Trường hợp doanh nhân không thuộc đối tượng phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì phải nộp văn bản xác nhận của doanh nghiệp;

g) Báo cáo quyết toán tài chính trong năm gần nhất của doanh nghiệp đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

* Một số điểm mới quy định về cấp thẻ Apec của Quyết định 09/2023/QĐ-TTg so với các văn bản trước đó là:

  1. Tại Khoản 1 Điều 14, quy định cho phép cấp lại Thẻ APEC sắp hết hạn (trước đây doanh nhân có Thẻ APEC sắp hết hạn phải làm thủ tục cấp thẻ lại từ đầu).
  2. Doanh nhân Việt Nam có quyền lựa chọn 01 trong 02 hình thức: là thẻ cứng hay thẻ điện tử (có giá trị pháp lý như nhau).
  3. Quyết định này có bổ sung thêm đối tượng cấp Thẻ APEC là Phó Tổng giám đốc, Phó giám đốc công ty.
  4. Về thành phần hồ sơ thì có bổ sung thêm như sau:  

+ Hợp đồng thương mại của doanh nghiệp ký kết trực tiếp hoặc qua giao dịch điện tử với đối tác của nền kinh tế thành viên APEC có thời hạn không quá 02 năm (trước đây là 01 năm).

+ Báo cáo về tình hình chấp hành nghĩa vụ bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp trong 12 tháng gần nhất và quá trình đóng bảo hiểm xã hội của doanh nhân tính đến thời điểm đề nghị cho phép sử dụng thẻ ABTC kèm theo tài liệu chứng minh.

+ Báo cáo quyết toán tài chính trong năm gần nhất của doanh nghiệp đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

  1. Quyết định 09/2023/QĐ-TTg có quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong cấp, sử dụng và quản lý thẻ ABTC. (Không còn xin ý kiến trả lời của cơ quan quản lý lao động (Sở lao động))

Tại Khoản 5 Điều 12 Quyết định 09/2023 có quy định: Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị từ cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các cơ quan thuế, hải quan, bảo hiểm, công an có văn bản trả lời về kết quả xác minh, nếu không có văn bản trả lời thì coi như đồng ý và phải chịu trách nhiệm về việc này. Trong trường hợp phát sinh phải xác minh nhiều nơi thì các cơ quan thuế, hải quan, bảo hiểm, công an có văn bản trao đổi với cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để gia hạn thời gian trả lời kết quả xác minh, thời gian gia hạn không quá 15 ngày.”

  1. Ngoài ra còn một số điểm mới khác như: bổ sung các mẫu biểu mới (tờ khai, công văn, thông báo, đơn trình báo…), thí điểm nộp hồ sơ online…

Quyết định 09/2023/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành từ ngày 10 tháng 7 năm 2023. (Quyết định này thay thế cho Quyết định số 45/2006/QĐ-TTg ngày 28 tháng 02 năm 2006 và Quyết định số 54/2015/QĐ-TTg ngày 29 tháng 10 năm 2015)./.

P. HTGS

Bài viết liên quan